
Phần mềm quản lý cửa hàng ắc quy phải quản lý được từng bình theo mã riêng, không chỉ đếm số bình trên kệ: bảo hành, đổi bình và công nợ nhà phân phối đều xoay quanh ba câu hỏi bình nào, bán ngày nào, lắp cho xe nào. Cửa hàng gắn được mã bình với ngày bán và số điện thoại khách xử lý một ca bảo hành trong vài phút; cửa hàng chỉ có sổ tay xử lý cùng ca đó bằng một cuộc tranh luận về ngày mua.
Một khách mang bình ắc quy xe máy yếu điện tới quầy, không mang phiếu bảo hành, chỉ nhớ "mua ở đây hồi đầu năm". Nhân viên lật sổ tìm theo tên, không thấy vì ca đó do người khác bán. Cửa hàng phải chọn giữa tự bỏ tiền đổi bình hoặc từ chối một khách có thể đang nói đúng.
Kho hàng gặp sự cố theo kiểu khác. Bình nhập đợt trước bị đẩy vào trong, bình nhập đợt sau được bán trước, nên bình cũ nhất nằm kệ lâu nhất và cần sạc bổ sung trước khi giao khách.
Điểm mất kiểm soát thứ ba nằm ở góc kho. Bình lỗi chờ gửi nhà phân phối nằm lẫn với bình cũ khách để lại khi mua bình mới, và cuối tháng không ai biết đã gửi bao nhiêu bình đi đổi, nhà phân phối đã đổi bao nhiêu bình.
Phần mềm quản lý cửa hàng ắc quy là phần mềm theo dõi từng bình bằng mã riêng từ lúc nhập kho, bán, kích hoạt bảo hành tới lúc đổi bình và thu hồi bình cũ, kèm dữ liệu khách hàng và công nợ nhà phân phối. Đây là một nhánh hẹp của phần mềm quản lý cửa hàng phụ kiện ô tô, khác ở chỗ ắc quy có thời hạn bảo hành tính bằng tháng và chịu ảnh hưởng của thời gian nằm kho.
Ngày bán là dữ liệu quyết định thời hạn bảo hành của từng bình. Chính sách bảo hành của Công ty Cổ phần ắc quy Tia Sáng (TIBACO) ghi: "Thời gian bảo hành được tính từ ngày bán do nơi bán ghi trên phiếu bảo hành". Khi phiếu không hợp lệ, thời gian bảo hành "được tính từ ngày sản xuất là mã số sản xuất được đóng trên bình ắcquy".
Hệ quả vận hành rất cụ thể: ví dụ một bình nằm kho bốn tháng, bán ra không kèm phiếu hợp lệ, có thể mất bốn tháng bảo hành. Theo chính sách nêu trên, thời hạn khác nhau theo nhóm: ắc quy xe máy 6 tháng, ắc quy khởi động ô tô 9 tháng. Vì vậy phần mềm phải giữ cả ngày sản xuất lẫn ngày bán trên từng bình và tự gán thời hạn theo dòng sản phẩm.
Ngay lúc này, cửa hàng có biết bình nào trên kệ đã nằm kho lâu nhất và bao nhiêu bình bảo hành đang chờ nhà phân phối đổi không? Qranty quản lý kho theo từng serial, kích hoạt bảo hành bằng số điện thoại khách và có luồng Gửi hãng bảo hành với chỉ số thời gian chờ.
Tám nghiệp vụ dưới đây đi theo đường đi của một bình ắc quy, từ lúc nhập kho tới lúc bình cũ rời cửa hàng. Một phần mềm quản lý cửa hàng ắc quy thiếu bất kỳ nghiệp vụ nào sẽ để lại một câu hỏi tại quầy chưa có câu trả lời.
Bảo hành gắn với một bình cụ thể, không gắn với một mã hàng, nên mỗi bình cần một dòng riêng trong kho. Dòng đó mang serial hoặc mã sản xuất đóng trên vỏ, kèm giá nhập và giá bán của chính bình đó.
Qranty nhập kho theo serial bằng file Excel hoặc theo lô bằng quét mã vạch. Danh sách kho hiển thị từng serial kèm trạng thái bảo hành, và bộ lọc theo danh mục, khoảng giá, trạng thái bảo hành giúp nhân viên tìm đúng bình khi khách đứng chờ.

Ngày sản xuất trên từng bình là căn cứ xếp thứ tự bán, không phải ngày nhập kho. Một đợt hàng nhập sau vẫn có thể chứa bình sản xuất sớm hơn đợt trước.
Cách làm thực tế là tạo trường thông tin tùy chỉnh "Tháng sản xuất" và điền lúc nhập Excel, ví dụ 2026-07. Trường tùy chỉnh trong Qranty lọc và tìm được, nên mỗi tuần nhân viên lọc các bình sản xuất sớm nhất, sạc bổ sung và đưa lên vị trí bán trước.
Kích hoạt bảo hành lúc giao bình biến ngày bán thành dữ liệu thay cho trí nhớ của khách. Nhân viên chọn bình trong kho, nhập số điện thoại khách, và thời hạn được tính từ ngày kích hoạt theo danh mục của bình.
Biển số xe là khóa tra cứu thứ hai khi khách đổi số điện thoại hoặc người mang xe tới không phải người mua. Cửa hàng ghi biển số vào một trường tùy chỉnh, tương tự cách gắn biển số với serial trong bài quản lý bảo hành camera hành trình.

Ca đổi 1 đổi 1 gồm hai giao dịch tách biệt: giao bình mới cho khách và gửi bình lỗi về nhà phân phối. Thiếu bản ghi thứ nhất, khách không có bằng chứng về bình mới; thiếu bản ghi thứ hai, cửa hàng mất dấu bình lỗi.
Bình mới giao khách cần được kích hoạt bảo hành như một lần bán mới. Điều 30 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 quy định khi đổi sản phẩm mới, "thời hạn bảo hành sản phẩm, hàng hóa đó được tính lại từ thời điểm đổi". Kích hoạt bình thay thế với thời hạn tính từ ngày kích hoạt khớp đúng yêu cầu này.
Bình lỗi gửi nhà phân phối được theo dõi bằng phiếu riêng trong luồng Gửi hãng bảo hành. Chỉ số số sản phẩm đang ở hãng và thời gian chờ cho biết nhà phân phối đang giữ bao nhiêu bình và giữ bao lâu.

Bình cũ thu hồi và bình lỗi chờ bảo hành là hai dòng hàng khác nhau. Bình cũ khách để lại thuộc về cửa hàng và được giao cho đơn vị thu gom; bình lỗi thuộc luồng đổi trả với nhà phân phối.
Qranty tách tab Linh kiện khỏi kho sản phẩm bán, nên cửa hàng có thể ghi bình cũ thu hồi ở tab này như một loại vật tư, không làm sai số tồn bình mới. Mỗi đợt giao bình cũ được ghi số lượng và ngày giao để đối chiếu cuối tháng.
Lịch kiểm tra định kỳ là lý do chính đáng để khách quay lại quầy trước khi bình hỏng giữa đường. Khách xe máy, ô tô cá nhân và đội xe dịch vụ có tần suất sử dụng khác nhau, nên lịch nhắc cũng khác nhau.
Qranty nhắc lịch theo nhóm khách kèm kịch bản tin nhắn qua Zalo ZNS hoặc SMS. Cách đặt mốc nhắc theo phụ kiện đã lắp có trong bài nhắc lịch bảo dưỡng xe; với ắc quy, mốc hợp lý là trước ngày hết hạn bảo hành, ví dụ ba tuần.
Công nợ nhà phân phối ắc quy đi theo đợt hàng, nên cửa hàng cần biết đợt nào đã trả đủ, đợt nào trả một phần. Qranty lưu danh bạ nhà cung cấp, ghi công nợ phải trả và nhận thanh toán từng phần.
Giá nhập và giá bán trên từng serial cho biết lãi gộp của từng bình. Khi cùng một mã bình được nhập ở hai mức giá, dữ liệu theo serial cho thấy đợt nhập nào đang cho lãi thấp hơn.
Garage và đội xe dịch vụ mua lặp lại, thường trả gối đầu, nên cần tách khỏi khách lẻ ngay trong danh bạ. Qranty phân loại khách, ghi tổng giá trị mua, lịch sử mua và khoản phải thu với từng khách.
Lịch sử mua giúp nhân viên nhận ra một xe đã thay bình hai lần trong thời gian ngắn. Đó là tín hiệu kiểm tra hệ thống sạc của xe trước khi giao bình thứ ba.
Ba nhóm công cụ khác nhau ở đơn vị quản lý: sổ tay ghi theo giao dịch, phần mềm bán hàng phổ thông ghi theo mã hàng, phần mềm theo serial ghi theo từng bình.
| Nghiệp vụ | Sổ tay, Excel | Phần mềm bán hàng phổ thông | Phần mềm theo serial |
|---|---|---|---|
| Nhận diện từng bình | Ghi tay nếu nhân viên nhớ | Theo mã hàng và số lượng | Mỗi bình một dòng, có giá nhập, giá bán |
| Ngày sản xuất | Đọc trên vỏ khi cần | Thường không có trường riêng | Trường tùy chỉnh lọc được |
| Ngày bán, thời hạn bảo hành | Phụ thuộc phiếu giấy | Có hóa đơn, chưa gắn thời hạn từng bình | Kích hoạt theo số điện thoại |
| Đổi 1 đổi 1, gửi nhà phân phối | Ghi chú rời | Khó theo dõi thời gian chờ | Phiếu gửi hãng, chỉ số thời gian chờ |
| Bình cũ thu hồi | Không ghi | Dễ lẫn vào tồn kho bán | Tách ở tab Linh kiện |
| Nhắc kiểm tra định kỳ | Gọi theo trí nhớ | Tùy phần mềm | Theo nhóm khách, Zalo ZNS hoặc SMS |
| Công nợ nhà phân phối | Sổ riêng | Có theo nhà cung cấp | Phải trả, thanh toán từng phần |
Khác biệt quyết định nằm ở ba dòng đầu của bảng. Phần mềm bán hàng phổ thông xử lý tốt việc bán và công nợ, nhưng chưa trả lời được bình này bán ngày nào và sản xuất tháng nào, trong khi phần mềm quản lý cửa hàng ắc quy cần trả lời câu hỏi đó ở mọi ca bảo hành.
Bốn tuần đủ để chuyển từ sổ tay sang phần mềm quản lý cửa hàng ắc quy theo từng bình, mỗi tuần xử lý một lớp dữ liệu.
Đầu ra của tuần đầu là mỗi bình trên kệ có một dòng trong kho, kèm tháng sản xuất. Thao tác: tạo danh mục cho từng nhóm bình, lập file Excel gồm serial, giá nhập, giá bán, tháng sản xuất, nhập vào kho và đi một vòng kệ để đối chiếu.
Đầu ra của tuần thứ hai là mọi bình rời quầy đều đã được kích hoạt bảo hành. Thao tác: đặt thời hạn cho từng danh mục theo chính sách hãng, kích hoạt mỗi lần giao bình bằng số điện thoại khách, ghi biển số vào trường tùy chỉnh và vẫn ghi ngày bán lên phiếu của hãng.
Đầu ra của tuần thứ ba là góc kho chỉ chứa những bình đã có bản ghi. Thao tác: tạo phiếu Gửi hãng bảo hành cho từng bình lỗi đang chờ, ghi bình cũ vào tab Linh kiện, nhập nhà phân phối vào danh bạ cùng các khoản đang nợ.
Đầu ra của tuần cuối là mỗi nhóm khách có một lịch nhắc riêng. Thao tác: phân loại khách lẻ, garage, đội xe, soạn kịch bản tin nhắn cho từng nhóm và đặt mốc nhắc trước ngày hết hạn bảo hành.
Cửa hàng nhỏ vẫn cần, vì số ca bảo hành đi theo số bình bán ra, không theo quy mô cửa hàng. Gói Free của Qranty gồm 100 sản phẩm và mã QR, đủ để chạy quy trình trên một phần kho trước khi mở rộng.
Cửa hàng dùng mã sản xuất đóng trên vỏ bình kết hợp mã QR in sẵn. Qranty có danh sách mã QR chưa gắn khách để in tem trước khi bán; khách quét tem trên bình để xem ngày hết hạn bảo hành.
Với người tiêu dùng, thời hạn bảo hành của sản phẩm đổi mới được tính lại từ thời điểm đổi theo Điều 30 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023. Điều kiện đổi giữa cửa hàng với nhà phân phối được đối chiếu riêng theo thỏa thuận hai bên.
Phần mềm theo serial không thay thế kế toán đầy đủ. Qranty theo dõi phải thu khách, phải trả nhà cung cấp và thanh toán từng phần cho quản trị hằng ngày; sổ sách kế toán và hóa đơn thực hiện trên hệ thống chuyên dụng.
Bảo hành ắc quy đúng hay sai phụ thuộc vào việc cửa hàng có dữ liệu của từng bình hay không. Ba ý cốt lõi gồm: quản lý mỗi bình bằng serial kèm tháng sản xuất; kích hoạt bảo hành lúc giao bình và kích hoạt lại khi đổi 1 đổi 1; tách bình chờ bảo hành, bình thu hồi và công nợ nhà phân phối thành các dòng theo dõi riêng.
Việc tiếp theo cực nhỏ: đếm số bình lỗi đang chờ nhà phân phối ở góc kho ngay hôm nay, mất đúng mười phút, và ghi cạnh mỗi bình ngày nhận từ khách.
Một bình ắc quy lỗi sản xuất không phải thứ làm cửa hàng mất khách. Việc lật sổ tìm ngày bán mỗi lần khách mang bình tới quầy mới là thứ làm cửa hàng mất khách.
Mỗi bình một mã, mỗi lần đổi bình một bản ghi. Gói Free của Qranty gồm 100 sản phẩm và mã QR, tối đa 10 phiếu sửa chữa, nhập/xuất Excel/PDF, là bản chạy thật, không phải bản demo cắt tính năng.