
Một công trình camera gồm đầu ghi, 8 đến 16 mắt, ổ cứng và nguồn, mỗi loại một hãng và một hạn bảo hành, do hai kỹ thuật viên lắp ở hai ngày khác nhau. Phần mềm quản lý lắp đặt camera giữ toàn bộ nhóm thiết bị đó trong một hồ sơ theo serial, kèm khách, địa điểm và người phụ trách. Cửa hàng ghi sẵn từng serial trả lời được khách báo mất hình sau một năm trong vài phút; cửa hàng dựa vào sổ tay và nhóm Zalo phải đi lục lại từng tin nhắn.
Sáng thứ hai, khách gọi báo đầu ghi hiện lỗi ổ cứng. Nhân viên mở nhóm Zalo công trình, kéo ngược lên hơn một tháng tin nhắn để tìm ảnh tem serial và tên kỹ thuật viên đã lắp. Ảnh nằm trong điện thoại của người đã nghỉ việc từ mùa trước.
Thông tin của một công trình thường nằm rải ở bốn nơi: sổ ghi công trình viết tay, file Excel báo giá, ảnh tem serial trong điện thoại từng kỹ thuật viên và nhóm Zalo công trình. Mỗi nơi giữ một mảnh, không nơi nào khớp với nơi còn lại. Báo giá ghi 12 mắt camera, sổ ghi 10 mắt, ảnh chụp chỉ thấy 9 tem.
Hệ quả đầu tiên là cửa hàng không biết thiết bị nào trong hạn bảo hành. Đầu ghi mua cùng đợt với ổ cứng, nhưng hãng áp dụng hạn khác nhau cho từng loại, nên câu trả lời "trong hạn" hay "hết hạn" cho khách phải dựa vào trí nhớ.
Hệ quả thứ hai là lịch sử lắp đặt đi theo người. Kỹ thuật viên nghỉ việc, ảnh và ghi chú đi theo điện thoại cá nhân của họ, cửa hàng chỉ giữ lại tên công trình.
Phần mềm quản lý lắp đặt camera là công cụ lưu từng thiết bị theo serial, gắn thiết bị vào khách và công trình, ghi người phụ trách và hạn bảo hành của từng món. Đơn vị theo dõi là thiết bị đã lắp tại một địa điểm cụ thể, không phải một dòng trên hóa đơn.
Phần mềm bán hàng thông thường dừng ở việc ghi hóa đơn: mã hàng, số lượng, giá, tổng tiền. Với camera, hóa đơn không trả lời được thiết bị nào treo ở cổng sau, ai lắp và hạn bảo hành đến ngày nào. Đó là phần việc của hồ sơ công trình, và là phần cửa hàng cần khi khách quay lại bảo hành. Bối cảnh chung của ngành được trình bày ở bài phần mềm quản lý cửa hàng camera.
Hạn bảo hành cũng khác nhau giữa các hãng và dòng thiết bị. Dahua, ví dụ, ghi trong thông báo cập nhật chính sách phân phối: "Bảo hành được tính từ ngày quét thành công số serial (SN) của sản phẩm trên ứng dụng Dahua Partner App." Cũng thông báo đó loại ổ cứng khỏi chính sách mới. Một công trình dùng đầu ghi và ổ cứng cùng hãng vẫn có thể có hai mốc bảo hành khác nhau, nên mỗi serial cần một ngày bắt đầu và một hạn riêng.
Nếu khách gọi báo lỗi ngay bây giờ, cửa hàng có tra được người lắp và hạn bảo hành từng thiết bị trong vài phút không? Qranty kích hoạt bảo hành bằng QR hoặc serial, mỗi thiết bị có hạn bảo hành khai riêng theo danh mục.
Bảy mục dưới đây đi theo đường đi của một công trình, từ lúc nhập thiết bị tới lúc khách gọi bảo trì. Mỗi mục gồm tình huống làm cần mục đó và một câu hỏi nên đặt khi xem phần mềm.
Một đơn 12 mắt camera là 12 serial riêng, và khi đổi một mắt lỗi, serial mới phải thay serial cũ trong hồ sơ. Gộp theo đơn hàng làm mất khả năng biết mắt nào đã thay và khi nào. Câu hỏi nên đặt: phần mềm có lưu từng serial thành một dòng riêng, có tìm được theo serial không?

Đầu ghi, mắt camera, ổ cứng và bộ nguồn thường có bốn hạn khác nhau. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 quy định tại Điều 30: "Sản phẩm, hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành theo thỏa thuận của các bên" hoặc bắt buộc bảo hành theo pháp luật. Cửa hàng vì vậy cần ghi hạn theo thỏa thuận thực tế cho từng loại thiết bị. Câu hỏi nên đặt: hạn bảo hành khai một lần theo danh mục hay phải nhập tay từng serial?
Một khách có thể có hai công trình: nhà phố và kho hàng. Khi khách báo lỗi, câu hỏi đầu tiên là lỗi ở địa chỉ nào. Câu hỏi nên đặt: một thiết bị có gắn được vào khách và địa chỉ lắp không, có lọc được toàn bộ thiết bị của một công trình không?
Kỹ thuật viên chạy hai công trình trong một ngày, người lắp đầu ghi khác người đi dây. Tên người phụ trách cần nằm cạnh thiết bị, không nằm trong tin nhắn giao việc. Cách tổ chức ca lắp được trình bày ở bài quản lý kỹ thuật viên lắp đặt camera. Câu hỏi nên đặt: tìm được mọi thiết bị một người đã lắp trong quý không?
Kỹ thuật viên đứng dưới chân tủ rack, tay cầm điện thoại, cần biết ngay thiết bị trong hạn hay hết hạn. Dán mã QR lên đầu ghi cho phép quét thay cho việc gõ serial dài. Câu hỏi nên đặt: quét một mã ra được ngày hết hạn không, người ngoài có xem được thông tin nội bộ không?
Thiết bị lỗi cần một phiếu riêng: ngày nhận, tình trạng, trạng thái đang kiểm tra hay đang sửa, chi phí linh kiện. Phiếu tra riêng với hồ sơ thiết bị, nên cửa hàng cần cả hai tra cứu được từ cùng một phần mềm. Câu hỏi nên đặt: phần mềm có bảng trạng thái cho phiếu, có luồng gửi hãng bảo hành không?

Công trình lắp xong, khách ít nhớ lịch vệ sinh mắt camera và kiểm tra ổ cứng. Nhắc đúng hạn giữ khách ở lại với cửa hàng và tạo thêm một lượt dịch vụ. Câu hỏi nên đặt: phần mềm có tự nhắc theo nhóm khách, có gửi qua Zalo hoặc SMS không?
Qranty được xây quanh bảo hành theo serial, nên các mục 1, 2, 5, 6 và 7 nằm trong tính năng sẵn có. Mục 3 và 4 dùng trường tùy chỉnh. Phần dưới nói rõ từng loại.
Phần làm được: kích hoạt bảo hành bằng QR hoặc serial, thời hạn bảo hành khai theo danh mục, lưu khách hàng và tra lịch sử mua, phiếu sửa chữa có trạng thái tiến độ, chi phí linh kiện theo ca, luồng gửi hãng bảo hành và nhắc lịch bảo dưỡng qua Zalo ZNS hoặc SMS. Trang quét QR hiện ngày hết hạn của thiết bị.
Phần dùng mẹo: Qranty cho tạo trường thông tin bổ sung cho danh mục, sản phẩm và khách hàng. Cửa hàng camera tạo các trường như tên công trình, địa chỉ lắp và kỹ thuật viên phụ trách, sau đó lọc và tìm theo các trường đó. Đây là cách làm bằng trường tùy chỉnh, không phải một mục công trình riêng.

Giới hạn cần nói thẳng: Qranty không phải phần mềm quản lý tiến độ thi công hay chấm công kỹ thuật viên. Lịch kéo dây, phân ca và tính lương theo công trình vẫn xử lý ngoài Qranty. Ảnh tem serial và ảnh hiện trường là quy trình cửa hàng tự lưu, đặt tên theo mã serial trong thư mục riêng.
Ba cách làm khác nhau ở chỗ dữ liệu công trình nằm trong đầu người lắp, trong một file hay trong hồ sơ theo serial. Bảng đối chiếu theo bốn tình huống cửa hàng gặp nhiều nhất.
| Tiêu chí | Sổ tay và Zalo | File Excel | Phần mềm theo serial |
|---|---|---|---|
| Tìm lại một công trình sau một năm | Lục tin nhắn, hỏi người đã lắp | Lọc theo tên khách, phụ thuộc người nhập đủ cột | Tìm theo serial, khách hoặc trường công trình |
| Biết thiết bị trong hạn | Nhớ ngày lắp, tự cộng hạn | Thêm cột ngày hết hạn, cập nhật tay | Hạn khai theo danh mục, hiển thị khi quét QR |
| Đổi kỹ thuật viên phụ trách | Mất lịch sử khi người đó nghỉ việc | Giữ nếu cột người lắp được điền đều | Tên người phụ trách nằm cạnh thiết bị |
| Nhắc bảo trì | Chủ cửa hàng tự nhớ hoặc không nhắc | Lọc cột ngày, gọi từng khách | Nhắc theo nhóm khách qua Zalo hoặc SMS |
Excel đủ cho vài chục công trình khi một người nhập và một người tra cứu. Phần mềm bắt đầu có lợi khi số kỹ thuật viên tăng, nhiều hãng với nhiều hạn khác nhau, và khách bắt đầu hỏi về bảo hành qua điện thoại cả ngày nghỉ.
Bốn tuần đủ để chuyển công trình đang chạy và công trình cũ trong hạn từ sổ tay sang hồ sơ theo serial. Mỗi tuần có một đầu ra kiểm được.
Đầu ra là danh sách danh mục (đầu ghi, mắt camera, ổ cứng, nguồn) kèm hạn bảo hành thực tế cửa hàng đã cam kết với khách. Thao tác: tạo từng danh mục, khai số ngày bảo hành, tạo ba trường tùy chỉnh gồm tên công trình, địa chỉ lắp và kỹ thuật viên.
Đầu ra là toàn bộ thiết bị đang trong kho có serial trong phần mềm. Thao tác: nhập hàng loạt bằng file Excel theo lô nhập từ nhà cung cấp, đối chiếu số lượng với kho thật.
Đầu ra là hai đến ba công trình có hồ sơ đủ serial, người phụ trách và địa chỉ. Kỹ thuật viên quét QR thiết bị lúc lắp, điền ba trường công trình và chụp ảnh tem serial lưu vào thư mục đặt tên theo mã serial. Cuối tuần, chủ cửa hàng thử tìm lại một công trình theo trường tên công trình.
Đầu ra là công trình lắp trong hai năm gần nhất đã có hồ sơ, ưu tiên công trình sắp hết hạn bảo hành. Thao tác: nhập thiết bị theo serial với ngày lắp thật, sau đó thiết lập nhắc lịch bảo trì cho nhóm khách có hợp đồng bảo trì.
Phần mềm bán hàng ghi hóa đơn, phần mềm quản lý lắp đặt camera ghi thiết bị đã lắp tại một địa điểm. Khác biệt nằm ở serial, khách, người phụ trách và hạn bảo hành của từng thiết bị.
Mỗi thiết bị là một serial với hạn bảo hành khai theo danh mục của nó. Các thiết bị cùng công trình được nhóm bằng trường tên công trình, và quét QR từng thiết bị hiện ngày hết hạn riêng.
Có, ở mức ghi và tra cứu: tên kỹ thuật viên nằm trong trường tùy chỉnh gắn với thiết bị, và cửa hàng lọc được mọi thiết bị một người đã lắp. Phân ca, lịch di chuyển và chấm công vẫn làm ngoài Qranty.
Cửa hàng làm vài chục công trình mỗi năm với một người nhập liệu dùng Excel vẫn ổn. Khi có hai kỹ thuật viên trở lên và hạn bảo hành bắt đầu chồng nhau, nên chuyển sang phần mềm theo serial để người nào cũng tra được.
Chọn phần mềm quản lý lắp đặt camera là chọn nơi giữ hồ sơ công trình khi người lắp đã nghỉ việc. Ba ý cốt lõi gồm: gắn từng serial vào công trình và khách; ghi tên người phụ trách cạnh thiết bị; khai hạn bảo hành riêng cho từng danh mục thiết bị.
Việc tiếp theo cực nhỏ: chọn một công trình đang chạy, nhập toàn bộ thiết bị theo serial và thử tìm lại bằng tên công trình.
Khách báo mất hình không quan tâm thiết bị nào hãng nào. Khách chỉ cần cửa hàng trả lời được ai đã lắp và thiết bị trong hạn hay không trong vài phút, không phải sau ba ngày lục tin nhắn.
Mỗi thiết bị một serial, mỗi công trình một hồ sơ. Gói Free của Qranty gồm 100 sản phẩm và mã QR, tối đa 10 phiếu sửa chữa, nhập/xuất Excel/PDF, là bản chạy thật, không phải bản demo cắt tính năng.