
Định giá điện thoại cũ khi thu mua quyết định biên lãi trước cả lúc máy lên kệ. Mỗi nhân viên thu mua định giá một kiểu, cùng một dòng máy sẽ bị mua cao thấp khác nhau và lợi nhuận trượt dần theo từng ca. Khung giá theo tình trạng, ghi vào hồ sơ từng IMEI, giúp cửa hàng giữ biên lãi và có căn cứ khi khách hoặc nhân viên thắc mắc.
Sáng thứ bảy, nhân viên ca sáng thu một chiếc iPhone cũ màn hình xước nhẹ với giá khá cao vì khách đứng chờ và quầy đang vắng. Chiều cùng ngày, nhân viên ca chiều thu đúng dòng máy đó, tình trạng tương tự, với giá thấp hơn rõ rệt. Khách của ca sáng quay lại giới thiệu người quen, khách của ca chiều chê giá thấp và bỏ đi sang cửa hàng khác.
Tuần sau, chủ cửa hàng mở kho và thấy hai chiếc máy cùng dòng đứng cạnh nhau với giá vốn chênh nhau. Không ai nhớ lý do định giá của từng chiếc: tin nhắn Zalo báo giá đã trôi, sổ tay ghi tên khách nhưng không ghi tình trạng, phiếu thu mua chỉ có một con số. Khi cần quyết định giá bán, chủ cửa hàng phải đoán biên lãi thay vì đọc biên lãi.
Khách quay lại cũng có thể hỏi vì sao chiếc máy được trả mức đó. Nhân viên không có căn cứ ghi sẵn nên trả lời theo cảm tính, mỗi người một cách. Một câu trả lời thiếu nhất quán đủ để khách mất tin vào cả bảng giá của cửa hàng.

Định giá điện thoại cũ khi thu mua là việc cửa hàng quy đổi tình trạng thực tế của một chiếc máy thành số tiền trả cho khách, sao cho sau khi bán lại vẫn đạt biên lãi mục tiêu. Công thức nền gồm ba phần trừ: giá thu bằng giá bán dự kiến trừ chi phí sửa chữa, trừ phí rủi ro, trừ biên lãi mục tiêu. Nhân viên thu mua chỉ cần điền ba phần trừ này cho từng hạng máy thay vì tự nghĩ ra một con số.
Phần tình trạng quyết định chi phí sửa và phí rủi ro. Cửa hàng thường kiểm năm nhóm: màn hình (xước, ám, điểm chết, thay ép kính), pin (độ chai, phồng), vỏ và khung (móp, cấn, nứt viền), bản lề hoặc nút bấm, và tài khoản khóa. Mỗi nhóm có mức trừ riêng, cộng lại thành khoản chênh so với giá bán của máy đẹp nguyên bản.
Với máy bán lại cho người dùng cuối, cửa hàng chịu thêm nghĩa vụ thông tin. Điều 21 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 mở đầu khoản 1 bằng yêu cầu "Cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về các nội dung sau đây", trong đó có chất lượng và xuất xứ hàng hóa. Hạng tình trạng ghi lúc thu mua chính là dữ liệu để mô tả máy đúng khi bán.
Khung giá vận hành tốt khi nằm cùng chỗ với kho, vì giá thu là giá vốn của chiếc máy. Cửa hàng đang cân nhắc công cụ có thể xem tiêu chí chọn phần mềm quản lý cửa hàng điện thoại cũ theo từng máy.
Hiện tại, cửa hàng có đọc lại được vì sao mỗi chiếc máy thu về bị trả đúng mức giá đó không? Qranty quản lý kho theo IMEI/serial, mỗi máy có hồ sơ riêng với giá nhập và trường thông tin tùy chỉnh.
Sáu việc dưới đây đi theo thứ tự một chiếc máy đi qua quầy: chia hạng, kiểm hồ sơ máy, tính giá, giới hạn quyền quyết định, ghi lý do và rà lại sau khi bán. Mỗi việc sinh ra một dòng dữ liệu để chủ cửa hàng kiểm tra sau này.
Cửa hàng chia máy thành ba đến bốn hạng, mỗi hạng gắn danh sách tiêu chí kiểm bằng mắt và bằng thao tác. Ví dụ hạng A là máy không lỗi chức năng, vỏ chỉ xước mờ; hạng D là máy hỏng nặng chỉ thu theo giá linh kiện. Mỗi tiêu chí cần đủ rõ để hai nhân viên khác nhau kiểm cùng một máy ra cùng một hạng.
Bảng tiêu chí nên có đèn soi, bài kiểm cảm ứng, kiểm loa, mic, camera, cổng sạc và thông số pin. Việc kiểm theo thứ tự cố định giúp nhân viên mới không bỏ sót phần việc nào lúc quầy đông.
Mọi máy phải qua phần kiểm này trước khi nói đến giá. Nhân viên đối chiếu IMEI trên thân máy với IMEI trong cài đặt, kiểm máy đã xóa khỏi tài khoản chủ cũ chưa, và hỏi nguồn gốc máy ngay tại quầy. Máy nghi hàng gian, IMEI lệch hoặc không xác nhận được chủ sở hữu không được vào bảng giá.
Với iPhone, trang hỗ trợ của Apple nêu rõ: "Không dùng iPhone hoặc iPad đã qua sử dụng nếu thiết bị đó được bảo vệ bằng Khóa kích hoạt". Máy bị khóa kích hoạt bán ra sẽ thành máy không dùng được, nên giá thu của loại máy này không nằm trong khung. Quy tắc từ chối nên ghi thẳng trong quy trình thu mua.
Mỗi hạng có một tỷ lệ giá thu so với giá bán dự kiến, tính từ ba phần trừ ở mục định nghĩa. Giá bán dự kiến lấy từ giá bán thực tế gần nhất của cùng dòng máy tại cửa hàng, không lấy từ giá niêm yết trên mạng. Khoản trừ sửa chữa lấy từ chi phí linh kiện và công thợ đã ghi trong các ca trước.
Khung giá này cũng là đầu vào cho chương trình thu cũ đổi mới, nơi cùng một bảng giá phục vụ khách đổi máy lấy máy mới.

Khung giá cần chừa một khoảng cho nhân viên điều chỉnh theo tình huống, ví dụ máy có đủ hộp và phụ kiện, hoặc máy khách mang đến đúng lúc kho thiếu hàng. Cửa hàng ghi rõ mức tối đa nhân viên tự cộng hoặc trừ so với giá chuẩn của hạng. Vượt mức đó, nhân viên chuyển cho chủ cửa hàng hoặc quản lý ca duyệt.
Biên độ rõ giúp ca sáng và ca chiều không ra hai mức giá lệch nhau. Mỗi lần duyệt vượt biên độ ghi kèm tên người duyệt trong hồ sơ máy.
Ngay khi chốt giá, nhân viên ghi hạng tình trạng, giá thu và lý do vào hồ sơ của chiếc máy. Lý do chỉ cần một dòng ngắn, như "pin chai, thay ép kính, hạng C". Sau này khách hỏi lại hay nhân viên khác tiếp nhận, mọi người đọc cùng một nguồn.
Ảnh máy lúc thu cũng nằm trong việc này. Cửa hàng tự lưu ảnh theo IMEI của từng máy, đặt tên ảnh bằng IMEI để mở lại khi cần đối chiếu tình trạng.
Cuối tháng, chủ cửa hàng lấy các máy đã bán, đặt giá thu cạnh giá bán thực tế và chi phí sửa đã phát sinh. Hạng nào có biên lãi thực thấp hơn mục tiêu cần giảm tỷ lệ giá thu. Hạng nào bán nhanh và lãi dày cho thấy khung đang thu quá chặt, làm cửa hàng mất khách.
Việc rà lại này biến khung giá thành bảng sống, thay đổi theo thị trường thực tế của cửa hàng thay vì đóng băng từ lúc lập.
Hồ sơ máy là nơi khung giá được lưu lại và kiểm tra sau này. Mỗi chiếc máy nhập kho theo IMEI/serial, có giá nhập chính là giá thu, kèm các trường thông tin tùy chỉnh do cửa hàng tự tạo như hạng tình trạng và lý do giá. Chi tiết kho máy cũ theo từng chiếc được trình bày trong bài quản lý kho máy cũ.

Mở hồ sơ một máy, cửa hàng thấy danh mục, số serial, giá nhập và giá bán. Hai ô giá nằm cạnh nhau giúp chủ cửa hàng nhìn ra chênh lệch giữa giá thu và giá bán ngay trên một màn hình.

Ở phía tài chính, báo cáo dòng tiền vào/ra cho biết mỗi tháng cửa hàng đã chi bao nhiêu cho thu mua và thu về bao nhiêu từ bán lại. Chi phí linh kiện theo ca sửa giúp tách khoản sửa thực tế khỏi khoản dự kiến trong khung giá. Khi ba nguồn này khớp nhau, việc rà biên lãi hàng tháng chỉ mất vài phút.
Bảng dưới đây là ví dụ để cửa hàng hình dung cấu trúc, tỷ lệ cụ thể do từng cửa hàng chốt theo biên lãi mục tiêu và dòng máy. Bốn cột trả lời bốn câu hỏi: máy thuộc hạng nào, tả tình trạng ra sao, trả bao nhiêu phần giá bán dự kiến, ai duyệt.
| Hạng | Mô tả tình trạng | Tỷ lệ giá thu so với giá bán dự kiến (ví dụ) | Người duyệt |
|---|---|---|---|
| A | Chức năng đầy đủ, vỏ xước mờ, pin tốt | Khoảng 75–80% | Nhân viên thu mua |
| B | Xước rõ, pin hơi chai, chưa thay linh kiện | Khoảng 65–70% | Nhân viên thu mua |
| C | Cần thay ép kính hoặc pin, vỏ móp | Khoảng 50–55% | Quản lý ca |
| D | Lỗi nguồn, lỗi bo mạch hoặc nứt khung | Giá theo linh kiện dùng được | Chủ cửa hàng |
Hạng càng thấp, người duyệt càng cao vì chi phí sửa và rủi ro càng lớn. Dòng cuối của bảng cho thấy hạng D không có tỷ lệ cố định: giá thu phụ thuộc linh kiện tháo ra bán lại được.
Bốn tuần đủ để chuyển từ báo giá theo cảm tính sang khung giá có hồ sơ, mỗi tuần xử lý một phần việc với đầu ra rõ.
Đầu ra là bảng hạng tình trạng với tiêu chí kiểm và tỷ lệ giá thu cho từng hạng. Thao tác: chủ cửa hàng lấy mười chiếc máy thu gần nhất, phân hạng lại và so sánh với giá thu thực tế để chỉnh tỷ lệ.
Đầu ra là mọi nhân viên thu mua kiểm cùng một máy ra cùng một hạng. Thao tác: cả ca cùng phân hạng năm chiếc máy mẫu, so kết quả, sửa chỗ lệch trong bảng tiêu chí.

Đầu ra là mọi máy thu mới đều có hạng, giá thu và lý do trong hồ sơ. Thao tác: tạo trường tùy chỉnh cho hạng và lý do giá, nhập máy theo IMEI, và lưu ảnh lúc thu theo IMEI.
Đầu ra là báo cáo biên lãi thực theo từng hạng. Thao tác: đặt giá thu cạnh giá bán và chi phí sửa của các máy đã bán, sau đó điều chỉnh tỷ lệ hạng nào lệch mục tiêu.
Tiêu chí gồm tình trạng màn hình, pin, vỏ, bản lề hoặc nút bấm, tài khoản khóa và nguồn gốc máy. Cửa hàng quy các tiêu chí này thành hạng, mỗi hạng có tỷ lệ giá thu riêng so với giá bán dự kiến.
Cửa hàng nên giới hạn một biên độ cố định quanh giá chuẩn của hạng, ví dụ cộng hoặc trừ một mức nhỏ khi máy có đủ phụ kiện. Vượt biên độ, quản lý ca hoặc chủ cửa hàng duyệt và ghi tên vào hồ sơ máy.
Không nên. Máy bị khóa kích hoạt không dùng được sau khi bán, máy nghi hàng gian kéo theo rủi ro pháp lý cho cửa hàng. Quy tắc từ chối cần ghi trong quy trình để nhân viên không phải tự quyết lúc khách đứng chờ.
Cuối tháng, cửa hàng đặt giá thu cạnh giá bán thực tế của các máy đã bán. Biên lãi thấp hơn mục tiêu cho thấy khung quá cao, máy bán rất nhanh với lãi dày cho thấy khung thu quá chặt.
Định giá điện thoại cũ khi thu mua giữ biên lãi khi mọi nhân viên dùng chung một khung. Ba ý cốt lõi gồm: chia hạng tình trạng và công thức giá thu thay cho báo giá cảm tính; giới hạn biên độ tự quyết và ghi lý do vào hồ sơ từng IMEI; rà giá thu so với giá bán thực tế hàng tháng.
Việc tiếp theo cực nhỏ: lấy mười máy thu gần nhất, đặt giá thu cạnh giá bán và ghi lại máy nào lãi thấp hơn mục tiêu. Việc này mất khoảng mười lăm phút và cho thấy khung giá cần chỉnh ở hạng nào.
Giá thu sai một chiếc máy là lỗi nhỏ. Giá thu sai theo từng ca khi không ai biết lý do mới là khoản lỗ lặp lại mỗi tháng.
Mỗi chiếc máy thu về cần một hồ sơ nói rõ vì sao nó có mức giá đó. Gói Free của Qranty gồm 100 sản phẩm và mã QR, tối đa 10 phiếu sửa chữa, nhập/xuất Excel/PDF, là bản chạy thật, không phải bản demo cắt tính năng.
