
Nhập kho bằng mã vạch đưa từng hộp điện thoại vào phần mềm bằng một lần quét IMEI trên nhãn hộp, thay cho việc gõ tay 15 chữ số cho mỗi máy. Một thùng hàng từ nhà cung cấp vào kho đúng IMEI, đúng giá nhập và có tem QR trước khi lên kệ khi cửa hàng làm đủ năm việc: chuẩn bị danh mục và SKU, quét IMEI từng hộp, nhập theo lô hoặc file Excel, đối chiếu phiếu giao hàng, in và dán tem QR bảo hành.
Chiều thứ sáu, nhà cung cấp giao một thùng 20 chiếc điện thoại kèm phiếu giao hàng in sẵn danh sách IMEI. Nhân viên kho vừa tiếp khách ở quầy vừa gõ từng dãy 15 chữ số vào file Excel, tới chiếc thứ mười hai gõ lệch một số. Ba tuần sau, khách mang máy quay lại bảo hành, nhân viên tra IMEI trên máy và không thấy chiếc máy đó trong kho.
Lỗi gõ tay không lộ ra lúc nhập hàng. Kho vẫn khớp tổng 20 máy, phiếu giao hàng vẫn được ký nhận; sai lệch chỉ hiện ra khi một chiếc máy cụ thể cần tra lại: lúc kích hoạt bảo hành, lúc khách mang máy lỗi tới quầy, lúc trả máy lỗi cho nhà cung cấp.
Kiểu sai thứ hai đến từ chính tấm nhãn hộp, nơi in nhiều mã vạch cạnh nhau: mã sản phẩm của hãng, số sê-ri, IMEI. Nhân viên mới quét trúng mã sản phẩm cho cả thùng, phần mềm nhận 20 dòng trùng nhau, và kho mất khả năng phân biệt từng máy ngay từ ngày nhập.
Nhập kho bằng mã vạch là cách ghi nhận hàng vào kho bằng việc đọc mã vạch in trên nhãn hộp, để số IMEI hoặc số sê-ri của từng chiếc máy đi thẳng vào phần mềm. Mỗi lần quét tạo một dòng hàng gắn với đúng một chiếc máy, nên dữ liệu kho tách được từng máy ngay từ ngày nhận hàng, không chỉ đếm tổng số.
Đây là cửa vào của toàn bộ hệ thống quản lý kho theo IMEI. IMEI ghi sai lúc nhận hàng sẽ đi theo chiếc máy qua lúc bán, lúc bảo hành và lúc kiểm kê.
Số cần quét nằm sẵn trên bao bì của hãng. Trang hỗ trợ của Apple tại Việt Nam hướng dẫn: "Hãy tìm số sê-ri, EID và IMEI/MEID trong mã vạch trên bao bì gốc". Một tấm nhãn chứa nhiều mã vạch, nên nhân viên kho cần biết chính xác mã nào là mã của chiếc máy.
Một thùng 20 máy vừa về, cửa hàng mất bao lâu để toàn bộ IMEI nằm trong phần mềm? Qranty nhận danh sách số Serial theo lô, tối đa 1.000 sản phẩm mỗi lần, và nhập file Excel/CSV qua ba chặng: tải file lên, xem trước và kiểm tra, nhập dữ liệu.
Năm việc dưới đây đi theo đường đi của một thùng hàng, từ lúc chưa mở thùng tới lúc hộp máy lên kệ: danh mục có trước khi quét, đối chiếu xong trước khi ký phiếu và in tem.
Phần mềm cần biết chiếc máy thuộc dòng nào trước khi nhận IMEI của máy đó. Màn hình Tiếp nhận sản phẩm mới của Qranty mở đầu bằng ô Danh mục sản phẩm, sau đó mới tới hình thức nhập, giá và trường tùy chỉnh. Dòng máy chưa có trong danh mục buộc nhân viên dừng quét để tạo mới giữa chừng.
Việc chuẩn bị gồm ba thao tác: so phiếu đặt hàng với danh mục hiện có, tạo trước các phiên bản mới theo quy tắc cách đặt mã SKU (hãng, dòng, dung lượng, màu, tình trạng), và khai thời hạn bảo hành theo danh mục, ví dụ 365 hoặc 730 ngày. Mỗi máy nhập sau đó nhận đúng hạn bảo hành, không cần gõ lại cho từng máy.

Với máy lẻ hoặc thùng nhỏ, thẻ Thêm đơn lẻ nhận một Số Serial cho mỗi lần lưu. Nhân viên đặt con trỏ vào ô Số Serial, quét mã vạch IMEI trên nhãn hộp bằng máy quét cầm tay, so dãy số hiện ra với dãy in trên nhãn, sau đó điền giá nhập theo phiếu giao hàng.
Máy quét cầm tay loại USB hoặc Bluetooth thông dụng hoạt động như một bàn phím: đọc mã vạch và gõ dãy số vào ô đang chọn. Việc cần kiểm tra trước là máy quét gửi đúng ký tự và tự xuống dòng sau mỗi lần quét.
IMEI gồm 15 chữ số và thường có chữ "IMEI" in ngay cạnh mã vạch; dãy 12 hoặc 13 chữ số dưới mã vạch lớn ở mặt hộp là mã sản phẩm của hãng, không phải mã của chiếc máy. Nhân viên mới nên quét thử ba hộp đầu và so với nhãn trước khi quét cả thùng.
Thùng từ 10 máy trở lên nên đi qua thẻ Thêm theo lô (Batch). Ô Danh sách số Serial nhận nhiều số cách nhau bởi dấu phẩy hoặc xuống dòng, tối đa 1.000 sản phẩm một lần, và dòng "Nhận diện: N sản phẩm" bên dưới đếm số serial phần mềm đọc được. Nhân viên quét liên tiếp từng hộp vào ô này, mỗi hộp một dòng, sau đó lưu cả lô với cùng danh mục và giá nhập.

Khi nhà cung cấp gửi kèm bảng kê IMEI dạng file, nhập file nhanh hơn quét. Màn hình Nhập sản phẩm từ Excel/CSV nhận file .xlsx, .xls, .csv tối đa 1.000 hàng và 2MB, đi qua ba chặng: tải file lên, xem trước và kiểm tra, nhập dữ liệu. Nút Tải template .xlsx cung cấp file mẫu để dán cột IMEI từ bảng kê vào đúng vị trí.

File Excel không thay được việc quét hộp: bảng kê là lời khai của nhà cung cấp, mã vạch trên hộp là bằng chứng về chiếc máy cửa hàng thực nhận.
Ký phiếu giao hàng trước khi đối chiếu đồng nghĩa với chấp nhận mọi sai lệch trên phiếu. Ba lớp đối chiếu làm ngay tại kho gồm: số lượng, tức dòng Nhận diện khớp số hộp đếm thực tế và số dòng trên phiếu; từng IMEI, tức mỗi IMEI quét được có trên bảng kê và ngược lại; giá nhập khớp hóa đơn hoặc phiếu giao.
Sai lệch phát hiện được ghi thẳng lên phiếu giao hàng trước khi ký, kèm IMEI cụ thể: thiếu hộp, thừa hộp, IMEI trên hộp khác IMEI trên bảng kê. Hộp móp méo hoặc tem niêm phong rách được tách riêng, chưa nhập kho.
Danh sách IMEI đã đối chiếu chứng minh một máy lỗi thuộc lô nào khi cần trả nhà cung cấp. Danh sách này cũng là nền cho mỗi kỳ kiểm kê kho cửa hàng điện thoại: kho khớp từng IMEI từ ngày nhập, nên chênh lệch về sau chỉ phát sinh sau ngày nhập.
Tem QR biến chiếc hộp thành một hồ sơ quét được. Mục QR Code của Qranty có ô tìm theo serial, sản phẩm, khách hàng, kèm các nút Xuất CSV/XLSX và In tem cho các mã đã chọn.
Tem dán ở vị trí cố định, không che nhãn IMEI và tem niêm phong của hãng. Bảo hành chỉ được kích hoạt tại quầy khi máy bán ra: nhân viên quét mã, phiếu bảo hành gắn vào IMEI của chiếc máy trong vài giây.
Lỗi thường gặp nhất đến từ hộp máy hai SIM. Nhãn hộp của nhiều dòng máy hai SIM in hai dãy IMEI1 và IMEI2, và nhân viên quét cả hai thành hai sản phẩm riêng. Quy tắc chặn: quét IMEI1 làm số chính, ghi IMEI2 vào một trường tùy chỉnh của sản phẩm, và kiểm tra dòng Nhận diện bằng đúng số hộp.
Lỗi thứ hai là quét nhầm mã sản phẩm của hãng. Điều 3 Nghị định 37/2026/NĐ-CP định nghĩa GTIN là "dãy số gồm tiền tố mã doanh nghiệp và số định danh sản phẩm theo tiêu chuẩn GS1". Mã này định danh một loại sản phẩm, nên các hộp cùng phiên bản mang cùng một mã.
| Lỗi khi nhập | Cách nhận ra trên màn hình | Hậu quả nếu không chặn | Cách chặn |
|---|---|---|---|
| Quét nhầm mã sản phẩm EAN, UPC của hãng | Dãy 12–13 chữ số, nhiều dòng trùng nhau | Không phân biệt được máy nào bán cho ai | Quét thử ba hộp đầu, chỉ quét mã có chữ IMEI |
| Quét cả hai IMEI của máy hai SIM | Số Nhận diện gấp đôi số hộp | Kho thừa máy ảo, kiểm kê lệch | IMEI1 làm số chính, IMEI2 vào trường tùy chỉnh |
| Quét một hộp hai lần | Số Nhận diện lớn hơn số hộp đếm | Một IMEI xuất hiện ở hai dòng | So Nhận diện với số hộp trước khi lưu |
| Bỏ sót hộp khi quét | Số Nhận diện nhỏ hơn số hộp đếm | Máy trên kệ không có trong phần mềm | Hộp đã quét chuyển sang khay riêng |
| Nhập file Excel không quét đối chiếu | IMEI trên bảng kê khác IMEI trên hộp | Bảo hành sai máy, trả nhà cung cấp sai lô | Quét lại toàn bộ hộp và so với file |
Bốn trong năm lỗi trên lộ ra qua cùng một phép so: dòng Nhận diện với số hộp đếm thực tế. Quy định không lưu lô khi hai con số này lệch nhau chặn được phần lớn sai sót trước khi dữ liệu vào kho.
Bốn tuần đủ để mọi thùng hàng mới vào kho bằng quét mã hoặc file, mỗi tuần khóa một phần việc và có một đầu ra kiểm tra được.
Đầu ra là danh mục đủ cho mọi dòng máy đang bán, có thời hạn bảo hành, và một máy quét đã chạy đúng với ô Số Serial. Thao tác: rà danh mục theo phiếu đặt hàng gần nhất, tạo phiên bản chưa có theo quy tắc SKU, quét thử nhãn hộp từng hãng.
Đầu ra là một thùng hàng nhập trọn bằng thẻ Thêm theo lô, dòng Nhận diện khớp số hộp. Thao tác: chụp mẫu nhãn hộp từng hãng, khoanh vị trí mã IMEI, dán bản in tại bàn nhận hàng.
Đầu ra là mọi phiếu giao hàng trong tuần được ghi chú sai lệch trước khi ký. Thao tác: đề nghị nhà cung cấp gửi bảng kê IMEI dạng file, nhập theo template .xlsx, quét lại các hộp để so với file, ghi khoản phải trả theo số máy thực nhận.
Đầu ra là mọi hộp nhập mới có tem QR trước khi lên kệ và một quy trình một trang dán tại kho. Thao tác: in tem từ mục QR Code cho từng lô, chọn ngẫu nhiên năm hộp, quét tem và so IMEI với nhãn hãng.
Máy quét cầm tay đọc mã vạch một chiều đủ cho nhãn IMEI trên hộp; loại đọc được cả mã hai chiều cho phép quét thêm tem QR bảo hành. Kết nối USB hợp với bàn nhận hàng cố định, Bluetooth hợp với việc mang máy quét vào kho.
Máy không có hộp được nhập bằng IMEI đọc trực tiếp trên máy, trong phần Cài đặt hoặc màn hình thông tin thiết bị. Nhân viên nhập số này qua thẻ Thêm đơn lẻ và một người thứ hai đọc chéo trước khi lưu.
Danh sách quét từ chính các hộp trở thành bảng kê nội bộ của lô hàng. Cửa hàng so số lượng và dòng máy với phiếu giao, ghi chú sai lệch trước khi ký, sau đó lưu danh sách IMEI đã quét làm căn cứ khi cần trả máy lỗi.
Phụ kiện mang mã sản phẩm của hãng, và mã này định danh loại hàng chứ không định danh từng chiếc. Với phụ kiện cần bảo hành theo từng chiếc, nút Tạo tự động trong thẻ Thêm theo lô sinh số serial cho hàng không có serial hãng.
Dữ liệu kho theo IMEI chỉ đúng khi ngày nhận hàng đúng. Ba ý cốt lõi gồm: chuẩn bị danh mục và SKU trước khi mở thùng; quét đúng mã IMEI, nhập theo lô hoặc file và so dòng Nhận diện với số hộp; đối chiếu phiếu giao hàng trước khi ký và dán tem QR trước khi lên kệ. Làm đủ năm việc này, nhập kho bằng mã vạch trở thành thói quen của kho, không phụ thuộc người nhận hàng hôm đó.
Việc tiếp theo cực nhỏ: lấy một hộp điện thoại trên kệ, chụp tấm nhãn và khoanh đúng mã IMEI cần quét, mất năm phút, dán bản in tại bàn nhận hàng.
Một chữ số sai ở ngày nhập hàng không làm kho lệch tổng số. Chữ số đó chỉ lộ ra đúng vào ngày khách mang máy quay lại bảo hành.
Mỗi hộp máy vào kho bằng một lần quét, không bằng 15 chữ số gõ tay. Gói Free của Qranty gồm 100 sản phẩm và mã QR, tối đa 10 phiếu sửa chữa, nhập/xuất Excel/PDF, là bản chạy thật, không phải bản demo cắt tính năng.
