
Quản lý công nợ cửa hàng điện thoại khó hơn cửa hàng bán lẻ thông thường vì nợ phát sinh ở cả hai chiều và ở nhiều nghiệp vụ cùng lúc. Tiền đặt cọc sửa máy, linh kiện bán chịu cho thợ quen, máy nhập trả sau cho nhà phân phối: mỗi khoản nằm ở một cuốn sổ khác nhau cho tới ngày cần đối chiếu.
Cửa hàng vừa bán vừa sửa có ít nhất bốn nguồn công nợ, và mỗi nguồn thường được ghi bởi một người khác nhau. Thu ngân ghi tiền đặt cọc của khách sửa máy. Kỹ thuật viên ghi linh kiện xuất cho thợ quen lấy trước trả sau. Chủ cửa hàng ghi khoản nợ nhà phân phối máy trong điện thoại riêng.
Ghi chép rời rạc làm mất khả năng trả lời câu hỏi đơn giản nhất: hôm nay cửa hàng đang được nợ bao nhiêu và đang nợ bao nhiêu. Thiếu câu trả lời này, chủ cửa hàng không biết số tiền mặt trong két đã thuộc về nhà cung cấp hay chưa.
Rủi ro lớn nhất nằm ở khoản nợ nhỏ, lâu ngày. Một thợ quen lấy linh kiện vài trăm nghìn mỗi tuần, không ai cộng lại sau nửa năm. Tới khi thợ chuyển chỗ làm, khoản nợ đã lên hàng chục triệu và không có chứng từ nào đủ rõ để yêu cầu thanh toán.
Quản lý công nợ cửa hàng điện thoại là việc ghi nhận, theo dõi và đối chiếu định kỳ mọi khoản phải thu từ khách, thợ, đại lý và mọi khoản phải trả cho nhà cung cấp máy, linh kiện, đối tác sửa chữa bên ngoài, sao cho mỗi khoản gắn với một chứng từ gốc và một ngày hẹn thanh toán. Hai chiều phải thu và phải trả cần ghi trên cùng một hệ thống để thấy được dòng tiền ròng.
Pháp luật dân sự quy định rõ hậu quả của việc chậm trả tiền. Theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015, bên chậm trả tiền phải trả lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả; lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không vượt giới hạn tại Điều 468, trường hợp không thỏa thuận áp dụng mức tại khoản 2 Điều 468. Điều khoản lãi chậm trả chỉ có giá trị khi được ghi trước trên chứng từ.
Công nợ là một nhánh của bài toán tài chính khi vận hành cửa hàng. Bài kinh nghiệm mở cửa hàng điện thoại trình bày cách dự trù vốn lưu động cho những tháng đầu, giai đoạn công nợ nhà cung cấp chiếm tỷ trọng lớn.
Không trả lời được trong một phút cửa hàng đang được nợ bao nhiêu? Module Tài chính của Qranty ghi phải thu, phải trả, từng lần thanh toán và lịch sử công nợ theo khách hàng, nhà cung cấp.
Xem hướng dẫn module Tài chính →Bốn loại dưới đây có kỳ hạn, chứng từ và rủi ro khác nhau. Hai loại đầu là phải thu, hai loại sau là phải trả.
Khoản phải thu từ khách lẻ phát sinh nhiều nhất ở nghiệp vụ sửa chữa. Khách đặt cọc một phần khi để máy, trả phần chênh lệch khi nhận máy. Khách mua máy trả một phần, hẹn chuyển khoản phần chênh lệch sau vài ngày. Mỗi khoản phải gắn với mã phiếu sửa hoặc mã đơn bán, không ghi riêng theo tên khách.
Thợ và đại lý mua sỉ là nhóm nợ có giá trị cộng dồn lớn nhất. Mỗi lần lấy hàng phải có phiếu xuất ghi rõ mặt hàng, số lượng, giá và chữ ký người nhận. Hạn mức nợ tối đa cho từng thợ, đại lý cần được đặt trước; giao dịch mới vượt hạn mức phải thanh toán ngay.
Công nợ nhà cung cấp quyết định lượng tiền mặt cửa hàng thực sự có. Ghi mỗi lô hàng nhập kèm hạn thanh toán và điều khoản chiết khấu nếu trả sớm. Đối chiếu với bảng kê của nhà cung cấp mỗi tháng phát hiện sớm sai lệch về giá và số lượng.
Máy gửi đi sửa ở đơn vị khác tạo ra khoản phải trả gắn với phiếu sửa của khách. Lỗi phần cứng sâu, ép kính, thay bo mạch thường được gửi cho xưởng chuyên. Khoản phải trả này cần ghi cùng phiếu sửa gốc để tính đúng lợi nhuận của từng ca sửa và tránh trả trùng.
Bảng dưới đây gợi ý chứng từ gốc, kỳ đối chiếu và người chịu trách nhiệm cho từng loại nợ. Cột cuối là ngưỡng cần xử lý ngay.
| Loại công nợ | Chứng từ gốc | Kỳ đối chiếu | Người phụ trách | Ngưỡng xử lý ngay |
|---|---|---|---|---|
| Khách lẻ đặt cọc, trả sau | Phiếu sửa, đơn bán | Mỗi ca | Thu ngân | Quá hẹn 3 ngày |
| Thợ quen, đại lý | Phiếu xuất có chữ ký | Mỗi tuần | Quản lý cửa hàng | Vượt hạn mức nợ đã đặt |
| Nhà cung cấp máy, linh kiện | Phiếu nhập, bảng kê nhà cung cấp | Mỗi tháng | Chủ cửa hàng | Trước hạn thanh toán 7 ngày |
| Đối tác sửa chữa ngoài | Phiếu gửi sửa gắn mã phiếu khách | Mỗi tuần | Trưởng kỹ thuật | Máy đã trả khách nhưng chưa trả đối tác |
Lãi chậm trả áp dụng được cho khoản phải thu nếu đã thỏa thuận. Theo giải đáp của Thư Viện Pháp Luật về lãi suất chậm trả, mức thỏa thuận không vượt 20%/năm, trường hợp không thỏa thuận áp dụng 50% mức trần, tương đương 10%/năm. Với thợ và đại lý, điều khoản này nên nằm sẵn trong thỏa thuận mua sỉ.
Lộ trình bốn tuần dưới đây gom các khoản nợ rời rạc về một nơi và đặt lịch đối chiếu cố định. Mỗi tuần xử lý một loại nợ.
Khoản đặt cọc và trả sau của khách lẻ cần được gắn lại với phiếu gốc trước tiên vì số lượng nhiều nhất. Thao tác: rà mọi phiếu sửa và đơn bán chưa thanh toán đủ, ghi số tiền chênh lệch và ngày hẹn, liên hệ khách quá hẹn.
Số dư được hai bên xác nhận là điểm bắt đầu cho mọi đối chiếu về sau. Thao tác: cộng toàn bộ phiếu xuất chưa thanh toán của từng thợ, đại lý, gửi bảng kê để xác nhận, đặt hạn mức nợ cho từng người.
Bảng kê từ nhà cung cấp phát hiện lô hàng ghi thiếu hoặc giá ghi sai. Thao tác: xin bảng kê công nợ của từng nhà cung cấp, so với phiếu nhập, ghi hạn thanh toán của từng lô vào lịch.
Lịch đối chiếu cố định biến quản lý công nợ thành việc lặp lại, không phải đợt dọn dẹp mỗi năm một lần. Thao tác: gán người phụ trách cho từng loại nợ theo bảng trên, đặt nhắc lịch theo kỳ, xem tổng phải thu và phải trả cùng báo cáo cuối tuần. Cách đọc báo cáo tuần được trình bày ở bài báo cáo doanh thu cửa hàng điện thoại.
Có. Theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015, bên chậm trả tiền phải trả lãi trên số tiền chậm trả. Mức lãi theo thỏa thuận, tối đa 20%/năm; không thỏa thuận áp dụng 10%/năm.
Theo đơn hàng hoặc phiếu sửa. Ghi theo tên khách làm mất liên kết với chứng từ gốc, khó đối chiếu khi một khách có nhiều giao dịch.
Mỗi tháng một lần, dựa trên bảng kê của nhà cung cấp so với phiếu nhập của cửa hàng. Lô hàng sắp tới hạn thanh toán cần được nhắc trước ít nhất 7 ngày.
Có thể, với điều kiện có hạn mức nợ, phiếu xuất ký nhận từng lần và lịch đối chiếu hằng tuần. Không có ba điều kiện này, khoản nợ cộng dồn rất khó thu hồi.
Quản lý công nợ cửa hàng điện thoại hiệu quả khi mỗi khoản nợ gắn với một chứng từ và một ngày hẹn. Một: tách bốn loại nợ có kỳ hạn và rủi ro khác nhau. Hai: thợ và đại lý cần hạn mức nợ đặt trước. Ba: lãi chậm trả chỉ áp dụng được khi đã thỏa thuận.
Việc đầu tiên cần làm mất đúng mười phút: liệt kê mọi thợ và đại lý đang lấy hàng ghi nợ, cùng ngày đối chiếu gần nhất với từng người.
Một khoản nợ lớn bị quỵt không phải thứ làm cạn tiền mặt của cửa hàng. Những khoản nợ nhỏ không ai cộng lại suốt nửa năm mới là thứ làm cạn tiền mặt.
Qranty ghi phải thu khách hàng, phải trả nhà cung cấp, từng lần thanh toán và lịch sử công nợ, gắn với đơn bán và phiếu sửa chữa. Tải về trên App Store và CH Play, vận hành được ngay.
Tải app Qranty miễn phí
